Thursday , 28 July 2016
Home » Blog » Hỏi đáp dinh dưỡng, cách chăm sóc, những kiên kị khi mang thai và chế độ ăn uống trái cây, thức ăn hoa quả tốt dành cho bà bầu giúp thai nhi thông minh, khỏe mạnh

Hỏi đáp dinh dưỡng, cách chăm sóc, những kiên kị khi mang thai và chế độ ăn uống trái cây, thức ăn hoa quả tốt dành cho bà bầu giúp thai nhi thông minh, khỏe mạnh

Những kiêng kị trong thai kỳ mẹ bầu phải nhớ

Thai kỳ là giai đoạn quan trọng mà bà mẹ cần phải lưu ý về sức khỏe, chế độ ăn uống, vận động nhằm đảm bảo sự phát triển toàn diện của bé yêu khi chào đời. Khi mang thai sẽ có nhiều vấn đề mà các bà mẹ lo lắng, đặc biệt là những bà mẹ mang thai lần đầu. Sau đây là một số điều thai phụ cần chú ý:

Chế độ ăn dành cho bà bầu nên kiêng kị

Trong khi có thai người mẹ phải ăn nhiều hơn bình thường. Trước hết, bữa ăn cần cung cấp đủ năng lượng, chủ yếu dựa vào gạo, ngô, mỳ… Các loại khoai củ cũng cung cấp năng lượng nhưng ít chất đạm, do đó chỉ nên ăn trộn, không ăn trừ bữa. Nên chọn loại gạo tốt, không xay xát quá trắng vì sẽ mất nhiều chất, đặc biệt là vitamin B1 chống bệnh tê phù. Bữa ăn có chất đạm sẽ giúp cho thai lớn, mẹ đủ sữa. Các loại thức ăn động vật như thịt, cá, trứng, sữa có nhiều chất đạm quý. Nhiều loại thức ăn thực vật cũng giàu chất đạm, đó là các loại họ đậu (đậu tương, đậu xanh, đậu đen), lạc hạt, vừng. Nên ăn thêm thịt, cá hoặc đậu, lạc.

Thai phụ không nên uống cà phê, trà đặc.
Thai phụ không nên uống cà phê, trà đặc.

Trong 3 tháng cuối của thai kỳ, mỗi ngày nên ăn thêm 1 quả trứng. Ðậu tương, lạc, vừng và dầu mỡ còn cung cấp cho cơ thể chất béo, làm bữa ăn ngon miệng, chóng tăng cân và dễ hấp thu các chất dinh dưỡng khác. Hằng ngày, bữa ăn của phụ nữ có thai và cho con bú không thể thiếu rau xanh là thức ăn có nhiều vitamin và chất khoáng. Các loại rau phổ biến ở nước ta như rau ngót, rau muống, rau dền, xà lách… có nhiều vitamin. Các loại quả chín như chuối, đu đủ, cam, xoài,… cũng rất cần thiết cho bà mẹ, nên cố gắng ăn thêm hằng ngày. Các loại thức ăn nói trên phần lớn có thể dựa vào vườn rau, ao cá và chuồng chăn nuôi ở gia đình (VAC).

Những điều cần kiêng kỵ

Trong thời kỳ có thai, chế độ ăn uống rất quan trọng vì có ảnh hưởng tới sức khỏe của cả mẹ lẫn con. Không nên ăn kiêng quá mức, nhưng cũng cần chú ý:

Không dùng rượu, cà phê, thuốc lá, nước chè đặc…

Giảm ăn các loại gia vị như ớt, hạt tiêu, tỏi, dấm. Vì các chất kích thích, gia vị cay, hạt tiêu là một trong những thủ phạm hàng đầu gây chứng buồn nôn ở phụ nữ mang thai. Những thực phẩm này còn là thủ phạm hàng đầu gây bệnh dạ dày nếu ăn nhiều và liên tục. Theo các nhà nghiên cứu, thực phẩm giàu chất béo là nguyên nhân chủ yếu làm phức tạp thêm căn bệnh ốm nghén có thể làm trầm trọng thêm các triệu chứng nôn ói ở thời kì ốm nghén vì vậy, nên tránh những loại thực phẩm này trong suốt ba tháng đầu mang thai. Loại thực phẩm này mất rất nhiều thời gian để tiêu hóa trong dạ dày của thai phụ làm có cảm giác khó chịu. Để giảm bớt triệu chứng ốm nghén có thể bổ sung thêm các dạng thực phẩm giàu chất xơ vào cơ thể như bánh quy khô, bánh mì nướng, ngũ cốc… để giảm triệu chứng buồn nôn.

Không nên ăn thực phẩm sống, nấu chưa chín

Thai phụ cần tuyệt đối không ăn các thực phẩm tái chín, gỏi sống sẽ ẩn chứa nhiều nguy cơ gây bệnh và ảnh hưởng xấu tới thai nhi. Vì thế cần thực hiện “ăn chín uống sôi” để bảo vệ cho bản thân và cả thai nhi.

Không ăn quá mặn

Thai phụ cần thường xuyên kiểm soát lượng muối trong khẩu phần vì ăn nhiều muối vì dễ gây tăng huyết áp. Bên cạnh đó lượng muối quá nhiều trong cơ thể cũng có thể gây ra hiện tượng phù nề ở thai phụ. Chính vì thế các bà mẹ mang thai cần hạn chế lượng muối trong khẩu phần ăn của mình để đảm bảo an toàn cho cả mẹ và bé. Các món chứa nhiều muối là thịt kho, cá kho, xúc xích, lạp xưởng, thịt hun khói…

Bên cạnh một số trái cây, đồ uống như rượu bia, đu đủ xanh… còn rất nhiều loại thực phẩm khác thai phụ nên cẩn trọng khi ăn uống cũng như không lạm dụng các loại trà thảo dược không rõ nguồn gốc được quảng cáo là giảm triệu chứng nghén.

Mẹ bầu không nên ăn thịt tái sống
Mẹ bầu không nên ăn thịt tái sống

Chăm sóc bà bầu mang thai

Chăm sóc người phụ nữ khi có thai nhằm đảm bảo thai nghén bình thường và sinh đẻ an toàn cho cả mẹ lẫn con. Vì thế, khi có thai, người mẹ cần đến trạm y tế hoặc nhà hộ sinh đăng ký để được nhân viên y tế khám và theo dõi. Mỗi người mẹ đều có phiếu khám thai hoặc phiếu theo dõi sức khỏe tại nhà.

Nên thực hiện việc khám thai định kỳ, ít nhất 3 lần trong suốt thời kỳ thai nghén. Lần thứ nhất vào ba tháng đầu để xác định chắc chắn có thai hay không; lần thứ hai vào ba tháng giữa để xem thai khỏe hay yếu để có kế hoạch bồi dưỡng cho người mẹ kịp thời; lần thứ ba vào ba tháng cuối để xem thai có phát triển bình thường không, thuận hay ngược dự đoán trước cuộc đẻ và ngày sinh. Nếu khám được nhiều lần hơn càng tốt, nhất là ba tháng cuối, mỗi tháng nên khám một lần.

Khi khám thai, người mẹ cần được khám toàn thân: đo chiều cao, cân nặng, đếm mạch, nghe tim phổi, đo huyết áp, thử nước tiểu, phát hiện các yếu tố bất thường như tăng huyết áp, thiếu máu, phù nề và các bệnh tim, gan, thận… Khám sản khoa: đo chiều cao tử cung, vòng bụng, nghe tim thai.

Ðể phòng bệnh uốn ván cho con, người mẹ khi có thai cần được tiêm phòng uốn ván, tiêm hai lần: mũi thứ nhất vào tháng thứ tư hoặc thứ sáu, mũi thứ hai cách mũi thứ nhất một tháng và trước khi đẻ ít nhất nửa tháng. Trong thời kỳ có thai, nhất là ở các tháng cuối, có thể có hiện tượng “xuống máu chân”, phù nhẹ ở chân. Nếu thấy phù toàn thân kèm nhức đầu, mờ mắt thì có thể do nhiễm độc thai nghén, phải đi khám, thử nước tiểu, đo huyết áp, hạn chế ăn muối. Thường xuyên đi khám để tránh tai biến khi đẻ.

Khi có thai, cần hết sức thận trọng khi dùng thuốc, tiêm chủng, chiếu, chụp điện vì rất dễ gây rối loạn phát triển thai. Thí dụ, khi mới có thai, dùng vitamin A liều cao có thể làm thai phát triển không bình thường; dùng thuốc kháng sinh có thể làm trẻ bị điếc. Một số thuốc nội tiết, an thần có thể gây sảy thai, thai chết lưu, rối loạn phát triển của thai hoặc bị bệnh sau khi đẻ. Do đó khi cần dùng thuốc, phải theo chỉ định của thầy thuốc.

Chế độ lao động, nghỉ ngơi hợp lý, tinh thần thoải mái của người mẹ ảnh hưởng trực tiếp đến thai nhi. Nên lao động chân tay và trí óc một cách điều độ, tránh lao động quá sức. Vào tháng cuối, người mẹ cần được nghỉ ngơi để có thời gian chuẩn bị cho con, cho mẹ có sức khỏe tốt, tránh được tai biến khi đẻ.

Chế độ dinh dưỡng cho bà bầu theo từng tháng

Quá trình mang thai của bạn kéo dài 9 tháng 10 ngày, trong khoảng thời gian đó bạn nên biết cơ thể mình cần bổ sung gì cho chế độ dinh dưỡng để giúp em bé được phát triển một cách toàn diện.

 1. Tháng thứ nhất
Trong tháng đầu tiên mang thai, bà bầu thường có cảm giác mệt mỏi, khó chịu, chán ăn, vì thế bạn cần chú ý bổ sung chất dinh dưỡng, đặc biệt là ăn nhiều loại thức ăn có chứa protein, sắt như thịt bò, thịt lợn, cá,..

2. Tháng thứ hai
Thời gian này, cơ thể thai phụ có nhiều thay đổi như: dừng vòng kinh, đau đầu, chóng mặt, hoặc kèm theo nôn nhiều, núm vú và những vùng xung quanh hơi có cảm giác đau. Nếu bạn nghén thì nên tranh thủ nghỉ ngơi nhiều hơn và cũng đừng quá lo lắng khi bạn chưa uống được sữa bà bầu vì giai đoạn này chưa cần quá nhiều dưỡng chất để nuôi thai nhi. Bạn có thể bổ sung các dưỡng chất bằng cách ăn nhiều hoa quả.

Thai phụ nên ăn các loại thức ăn dễ tiêu hoá như: bánh mỳ, cháo, nước hoa quả, mật ong…

Chế độ dinh dưỡng cho bà bầu từ tháng 1 và tháng 2
Chế độ dinh dưỡng cho bà bầu từ tháng 1 và tháng 2

 3. Tháng thứ ba
Tháng thứ ba thích hợp với việc ăn canh gà trống và ăn nhiều các loại thịt, cá, trứng và các loại đậu.

4. Tháng thứ tư
Thai phụ nên ăn làm nhiều bữa. Và lưu ý không nên nhai lệch về một bên hàm và nhai kĩ rồi mới nuốt. Không nên ăn những loại thức ăn chứa các chất kích thích như: rượu, bia… và không hút thuốc lá. Nên ăn những loại thức ăn có chứa nhiều vitamin.

Chế độ dinh dưỡng cho bà bầu từ tháng 3 và tháng 4
Chế độ dinh dưỡng cho bà bầu từ tháng 3 và tháng 4

 – Vitamin A: Có trong trứng, sữa, tôm, cá, gan các loài động vật. Các loại rau quả có màu đậm (như rau ngót, rau muống, rau dền, rau đay, rau khoai loang, cần ta, gấc, cà rốt, bí đỏ, đu đủ, xoài, củ khoai lang nghệ…) có nhiều caroten, khi vào cơ thể sẽ chuyển hóa thành vitamin A.

– Vitamin B1: Có nhiều trong ngũ cốc và các loại đậu (hạt) như gạo, bột mì, bột đậu xanh…

– Vitamin B2: Hạt ngũ cốc toàn phần, thức ăn có nguồn gốc động vật.

– Vitamin B6: có nhiều trong gan bê, ruốc thịt, thịt gà, ngô…

– Vitamin B9 (hay còn gọi là axit folic) có nhiều trong măng tây, rau xanh, gan, thịt gà, trứng.

– Vitamin PP: Lạc, vừng, đậu các loại, rau ngót, giá đậu xanh, cải xanh, rau dền đỏ, rau bí, thịt, cá, tôm, cua, ếch.

– Vitamin B12: Pho mát làm từ thịt dê và thịt cừu, cá, quả hạnh nhân, cải xoong, dưa bắp cải, sữa tươi, sữa bột, sữa chua, sữa đậu nành, nước khoáng…

– Vitamin C: Rau xanh (rau muống, rau ngót, bắp cải, cải xoong), quả chín (cam, chanh, bưởi, xoài, ổi…), khoai tây, khoai lang, củ cải, hành tây, ớt ngọt, rau mùi, …

– Vitamin D: Dầu gan cá, cá, gan, lòng đỏ trứng, thịt lợn, chất béo của sữa.

– Vitamin E: Các loại dầu (dầu hướng dương, dầu lạc, dầu cọ…), rau dền, giá đậu, quả mơ, quả đào, gạo, ngô, lúa mì.

5. Tháng thứ năm
Thai ở tháng thứ 5, não bắt đầu phát triển nhanh, vì thế nếu thai phụ ăn quá nhiều thịt sẽ không tốt cho sự phát triển não của thai nhi. Ví dụ: ăn nhiều thịt sẽ khiến cơ thể có nhiều axít, làm cho não của thai nhi không linh hoạt; ăn quá nhiều đường trắng không có lợi cho việc phát triển tế bào ở đại não; nên lựa chọn những loại thức ăn thô như: bột mỳ, bột gạo.

6. Tháng thứ sáu
Thai phụ cần đề phòng thiếu canxi và sắt.

Ở tháng thứ 6, thai nhi sinh trưởng rất nhanh, vì thế trong chế độ ăn uống nên có nhiều lòng trắng trứng gà, bổ sung các chất khoáng cũng như vitamin. Khi đó lượng canxi của người mẹ được thai nhi hấp thụ rất nhiều, rất dễ bị thiếu. Nếu lượng canxi không đủ thì sau này đứa trẻ sinh ra rất dễ bị loãng xương, đau răng hoặc viêm lợi và thai nhi cũng dễ bị gù lưng bẩm sinh. Trong quá trình dưỡng thai, bà bầu chú ý phải cung cấp lượng canxi vừa đủ.

Phụ nữ mang thai 5 – 6 tháng cũng rất dễ phát sinh bệnh thiếu máu, vì lượng máu và sắt cần cho thai nhi sẽ tăng lên gấp đôi. Ngoài ra, cơ thể người mẹ lại thêm dịch vị nên cũng ảnh hưởng đến việc hấp thụ lượng sắt trong cơ thể. Thiếu sắt đối với phụ nữ mang thai hay thai nhi đều rất nguy hiểm, làm cho thai nhi sinh trưởng chậm…Vì vậy, người mẹ mang thai cần hấp thụ một lượng sắt cần thiết.

 Trong các loại rau như: cải trắng, hồng tây, khoai tây, các loại đậu chế biến đều chứa nhiều chất sắt, canxi và vitamin, đặc biệt ăn nhiều thịt nạc, thịt gia cầm, gan và tiết động vật cùng các loại trứng, hạt vừng, bột, hoa quả… Các loại thực phẩm này có nhiều chất sắt, vitamin C, rất có lợi cho sự bổ sung chất sắt trong cơ thể người mẹ và thai nhi. Chỉ cần trong khi ăn uống, người mẹ có ý thức tăng cường hàm lượng chất sắt, canxi thì có thể dự phòng được bệnh thiếu các chất canxi, sắt.

Phụ nữ mang thai nên tránh ăn quá nhiều dầu béo, chất muối để tránh bệnh phù chân, cao huyết áp và các bệnh về tim mạch.

Chế độ dinh dưỡng cho bà bầu từ tháng 5 và tháng 6
Chế độ dinh dưỡng cho bà bầu từ tháng 5 và tháng 6

7. Tháng thứ bảy

– Tăng cường ăn đồ ăn nóng: Nói chung, thức ăn chủ yếu của thai phụ phải nóng, thức ăn cần đa dạng, nhiều gạo, ngũ cốc… đậu đỏ, đậu xanh, các loại hương liệu phối hợp. Nhưng liều lượng nên vừa đủ, tránh cho thai phị bị béo phì, thai nhi quá to.

– Ăn nhiều chất có chứa hàm lượng sắt nhiều. Sắt là chất rất cần thiết cho mạch máu, các vật chất để ăn có hàm lượng sắt nhiều như: máu động vật, gan, thịt nạc, các loại cá, các loại đậu, các loại rau củ quả…

– Chú ý các chất như canxi, phốt pho, I-ốt, kẽm trong rong biển, tảo đỏ, sứa, đậu tương, đậu phụ, rau cải, mộc nhĩ đen, lạc, trứng gà, lòng đỏ trứng, xương đầu động vật, thịt nạc, gan động vật cùng các loại cá, tép moi, trai biển…

– Tăng cường các loại vitamin như A, B, B1, B2, C, E, D…

– Đảm bảo cung cấp đủ lượng mỡ. Dầu động thực vật đều tích chứa hàm lượng mỡ rất phong phú. Thông thường, khi nấu ăn chủ yếu nên dùng dầu thực vật, như dầu đậu nành, dầu lạc, dầu vừng, dầu rau cải… cũng có thể dùng một ít dầu động vật, cũng như trực tiếp ăn lạc, vừng…

– Tăng cường ăn uống nhưng nên thích hợp. Phụ nữ mang thai mỗi ngày nên ăn từ 4 – 5 lần, nhưng mỗi lần ăn không nên ăn quá no, giúp cho việc hấp thụ dinh dưỡng trong cơ thể dễ dàng hơn và bụng không phải mang theo lượng thức ăn quá lớn gây mệt nhọc.

8 . Tháng thứ tám
– Nên ăn làm nhiều bữa và ăn với lượng vừa phải để giảm cảm giác dạ dày bị trướng đầy.

– Nếu mỗi tuần, thể trọng thai phụ tăng khoảng 500 gam thì nên ăn nhiều rau xanh và nên hạn chế ăn các đồ ngọt, chứa đường, mỡ để phòng thai nhi quá to, gây khó khăn cho việc sinh nở.

– Chọn món ăn có trị dinh dưỡng cao như: thực phẩm có nguồn gốc từ động vật, tránh ăn đậu nành, khoai hồng để phòng dạ dày bị chướng.

– Không nên lạm dụng chất bổ như: dầu gan cá, vitamin, nhân sâm…

Khẩu phần ăn hàng ngày nên có các loại thực phẩm sau: gạo, ngũ cốc và các lương thực khác; trứng các loại (gà, vịt, chim cút), thịt bò, các loại thịt khác và cá, gan động vật (mỗi tuần ăn một lần), các loại đậu, rau, hoa quả, dầu chưng cất.

Chế độ dinh dưỡng cho bà bầu từ tháng 7 và tháng 8
Chế độ dinh dưỡng cho bà bầu từ tháng 7 và tháng 8

9. Tháng thứ chín
Lúc này, thai phụ nên ăn thêm nhiều dinh dưỡng, chất lượng tốt, vẫn lấy nguyên tắc mỗi lần ăn không cần ăn nhiều, nhưng ăn thành nhiều bữa. Mỗi ngày 5 bữa trở lên. Nên chọn loại thức ăn có khối lượng nhỏ mà chất dinh dưỡng lại cao như các loại thức ăn có nguồn gốc từ động vật, giảm thiểu các loại thức ăn có khối lượng lớn, nhưng dinh dưỡng lại thấp như đậu nành…

– Lòng trắng trứng: Trong suốt quá trình mang thai đều cần tăng cường chất lòng trắng trứng, một số chất này chủ yếu từ chế phẩm đậu, từ sữa, trứng và thịt.

– Không ăn nhiều muối: Cuối giai đoạn mang thai dễ phát sinh các chứng bệnh cao huyết áp, do đó nên hạn chế ăn muối. Phụ nữ mang thai nên chú ý ăn chất có sắt, lượng máu đủ để sinh con và để tích chữ lượng sắt cho thai nhi.

– Vitamin: Các vitamin chủ yếu từ ăn các loại rau tươi xanh và hoa quả. Vitamin A có thể tăng sức đề kháng bị nhiễm bệnh của người mẹ mang thai. Vitamin D có thể giúp cho quá trình hấp thụ canxi được dễ dàng hơn.

– Chú ý ăn nhiều các thức ăn thanh đạm: Dùng dầu thực vật để chế biến thức ăn, ăn ít các món ăn chính, ăn nhiều các món ăn phụ như rau, hoa quả, các chế phẩm sữa. Ăn uống thanh đạm là tiêu chuẩn cho người mẹ mang thai ở thời điểm cuối này.

– Phụ nữ mang thai giai đoạn cuối này nên ăn nhiều, nhưng mỗi lần ăn không nên no quá và ăn các thức ăn có hàm lượng mỡ chua và chất kẽm như: hạt hồ đào, hướng dương, vừng đen, lạc; hàm lượng thức ăn có chất sắt, vitamin B2 như: các loại gan, lòng đỏ trứng, mộc nhĩ đen, cải tía, rong biển, chế phẩm từ đậu, cải xanh. Hàm lượng thức ăn có canxi cùng vitamin D như: sữa bột, gan, tôm, canh cá, canh đầu cá, các chế phẩm đậu phụ. Ăn nhiều sữa bột và hoa quả sẽ tốt cho da của cả người mẹ và trẻ nhỏ.

Những bài viết liên quan sức khỏe bà bầu :

Ăn uống và bổ sung dinh dưỡng khi mang thai 3 tháng đầu

Muốn thai nhi khỏe mạnh, muốn con giỏi thông minh thì khi mang thai chị em phải có một chế độ dinh dưỡng thật hợp lí và khoa học, nhất là trong giai đoạn 3 tháng đầu. Vậy cần có một chế độ ăn uống như thế nào là tốt nhất cho sự phát triển của thai nhi? Xin mời các chị em cùng tham khảo bài viết dưới đây của chúng tôi nhé!

Chế độ dinh dưỡng hợp lý cho bà bầu

Các chuyên gia dinh dưỡng hàng đầu trong lĩnh vực này khuyên rằng trong bữa ăn hàng ngày của chị em cần bổ sung đủ 4 nhóm chất dinh dưỡng chính sau:

– Chất bột: có nhiều trong gạo, ngũ cốc, khoai, các loại đậu…
– Chất đạm (protein): có nhiều trong các loại thịt, cá, sữa, các loại đậu đỗ…
– Chất béo: mỡ, dầu thực vật, bơ…
– Vitamin và chất xơ: các loại rau xanh, trái cây…

Khi bổ sung dinh dưỡng thì một trong những điều chị em cần chú ý nhất là phải cân đối hài hòa giữa chất bột, chất đạm và chất béo cho cơ thể:

Nếu khi mang thai chị em có sức khỏe tốt và đủ chất thì nên không nên bổ sung quá nhiều dinh dưỡng vào thời điểm này. Tuy nhiên, nếu chị em có sức khỏe không tốt lắm thì phải cố gắng ăn nhiều hơn bình thường để đảm bảo sức khỏe cua mẹ và sự phát triển của thai nhi.
Bổ sung các thực phẩm chứa nhiều chất xơ từ rau, củ, quả.
Cung cấp đủ lượng nước cần thiết cho cơ thể, mỗi ngày chị em nên uống ít nhất khoảng 2 lít.
Để tránh tình trạng sợ ăn, nôn hoặc là buồn nôn chị em nên nhiều bữa trong ngày.

Ăn uống và bổ sung dinh dưỡng khi mang thai 3 tháng đầu
Ăn uống và bổ sung dinh dưỡng khi mang thai 3 tháng đầu

Bổ sung các vitamin và khoáng chất cần thiết cho cơ thể người mang thai

 –   Canxi: Giúp hoạt động hệ thần kinh và đông máu bình thường cho mẹ, hình thành hệ xương và răng vững chắc cho bé. Có nhiều trong sữa, tôm, cua, cá, rau xanh, đậu đỗ…
Axit folic: Giảm nguy cơ bị khuyết tật bẩm sinh hệ thần kinh và cột sống ở trẻ sơ sinh. Có nhiều trong, súp lơ xanh, măng tây, quả bơ…
–   Sắt: Là thành phần không thể thiếu trong việc sản sinh hồng cầu, ngăn ngừa thiếu máu. Chứa nhiều trong thịt đỏ, thịt bò, thịt gà, trứng… Chị em cần bổ sung thêm ít nhất 15gr sắt mỗi ngày.
–   Các vitamin: Các vitamin giúp mẹ bầu tăng cường sức đề kháng, chống loãng xương, tránh việc còi xương ở trẻ, hạn chế tình trạng xuất huyết ở mẹ bầu… Các vitamin chứa nhiều trong các loại rau xanh và hoa quả tươi.
Nếu muốn bổ sung vitamin và khoáng chất thông qua thuốc thì chị em nên tham khảo ý kiến của bác sĩ trước nhé!

Chế độ ăn uống bà bầu nên tránh

–    Không nên uống rượu và đồ uống có cồn.
Không nên dùng nhiều đồ uống có ga, có chứa cafein và cocain.
Thay đổi thói quen thường xuyên ăn mặn vì khi có thai ăn nhiều muối sẽ dẫn đến huyết áp cao và phù, ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe mẹ và con.
–   Tránh ăn các loại rau sống không rõ nguồn gốc.
–   Nên tránh các sản phẩm từ sữa, bơ, phomat chưa qua tiệt trùng;,cá, thịt, trứng còn tái, thức ăn ôi thiu, mốc, có mùi lạ…
–   Hạn chế sử dụng các loại cá có nguy cơ chứa thủy ngân cao (cá thu, cá mập, cá kiếm). Thủy ngân nhiễm trong cá nếu tích lũy quá nhiều có thể gây tổn thương đến não của thai nhi.
–   Ăn ít những loại thực phẩm có khả năng gây động thai, sinh non như đu đủ xanh, táo mèo, long nhãn, đào, gừng, ớt, rau sam…

3 tháng đầu ăn gì để thai nhi tránh bị dị tật

–   Axit folic có nhiều trong đậu đen, măng tây, rau bina, trái cây và nước trái cây, đậu lăng, các loại ngũ cốc, bột mì… rất có lợi cho bà bầu.

–   Ba tháng đầu là một trong những giai đoạn quan trọng nhất đối với thai nhi. Vì vậy, ngay từ khi nhận được tin vui, các mẹ bầu cần áp dụng ngay lập tức chế độ ăn uống hợp lý để đảm bảo sự phát triển tối ưu cho thai nhi và sức khoẻ bà mẹ.

–   Ăn nhiều đậu đen, măng tây, trái cây…

Axit folic là một chất dinh dưỡng quan trọng trong thai kỳ, đã được chứng minh là có tác dụng làm giảm đáng kể nguy cơ dị tật bẩm sinh ở thai nhi và hỗ trợ sự phát triển bình thường của các tế bào trong cơ thể. Những phụ nữ có nguy cơ mang thai dị tật bẩm sinh, như những người dùng thuốc chống động kinh, sẽ cần một đơn thuốc chứa hàm lượng cao của acid folic.

Ngoài ra, mẹ bầu cũng có thể lựa chọn những loại thực phẩm giàu folate như đậu đen, măng tây, rau bina, trái cây và nước trái cây, đậu lăng, các loại ngũ cốc, bột mì…

Măng tây có chứa nhiều axit folic rất tốt cho thai nhi
Măng tây có chứa nhiều axit folic rất tốt cho thai nhi

Thịt bò và thịt gà cung cấp chất sắt

Thịt bò và thịt gà là nguồn thực cung cấp sắt tuyệt vời. Ngoài ra, một số loại thực vật cũng cung cấp sắt như rau bina, đậu lăng nói riêng và các loại đậu nói chung … Tuy nhiên chất sắt từ nguồn thực vật khó hấp thu hơn từ động vật. Do đó, các bà mẹ ăn chay nên bổ sung thêm sắt từ thuốc.

Ăn nhiều cá

Tiêu thụ nhiều cá trong thai kỳ rất tốt cho sự phát triển của thai nhi. Các loại cá giàu dinh dưỡng bao gồm: Cá cơm, cá da trơn, cá trích, cá hồi, cá minh thái, cá tuyết và tôm. Tuy nhiên, bạn cũng nên tránh xa một số loại cá có hàm lượng thuỷ ngân cao như cá kiếm, cá kình, cá thu và cá mập.

Gia tăng chất béo có lợi

Cá hồi là nguồn cung cấp Omega-3 tuyệt vời cho thai phụ. Bên cạnh đó, quả óc chó và hạt lanh cũng chứ rất nhiều chất béo lành mạnh.

Bổ sung canxi

Canxi cần thiết cho sự hình thành và phát triển xương ở thai nhi. Bởi vậy, các bà mẹ phải đảm bảo được cung cấp nguồn canxi đầy đủ trong suốt quá trình mang thai. 1000 mg canxi mỗi ngày là hàm lượng phù hợp cho các bà bầu.

Các bà mẹ phải đảm bảo cung cấp nguồn canxi đầy đủ trong suốt quá trình mang thai.
Các bà mẹ phải đảm bảo cung cấp nguồn canxi đầy đủ trong suốt quá trình mang thai.

Ăn nhiều chất xơ

Táo bón là hiện tượng phổ biến của thai kỳ. Khi mang thai, cơ thể của người mẹ trì trệ, kể cả hệ tiêu hoá. Lời khuyên dành cho các bà mẹ là tiêu tụ thật nhiều chất xơ ( 28-30 gam mỗi ngày) và uống đủ nước để cơ thể hoạt động trơn tru nhất có thể.

Nói không với bia rượu và cắt giảm caffeine

Bác sĩ Weiner – Chủ tịch Sản phụ khoa tại Đại học Kansas (Mỹ) – cho biết: “Rượu đã được chứng minh là có nguy cơ gây ra dị tật bẩm sinh cho thai nhi cũng như đe doạ đến sự phát triển trí não của trẻ. Một chút rượu có thể không ảnh hưởng nhiều đến mẹ nhưng lại là mối đe đoạ lớn với thai”. Mẹ bầu cũng nên thận trọng với caffeine, chỉ nên sử dụng một lượng nhỏ mỗi ngày để đảm bảo sức khoẻ bà mẹ và bé.

Không nên ăn quá nhiều

Bà mẹ tăng cân quá nhiều trong thai kỳ có thể dẫn đến bệnh tim, béo phì và tiểu đường bẩm sinh cho thai nhi. Thực tế, thai phụ chỉ cần khoảng 300 calo mỗi ngày, vì vậy bạn nên thông minh lựa chọn thực phẩm để vừa đảm bảo đầy đủ đinh dưỡng, vừa tránh ôm đồm ăn quá nhiều.

Nguyên tắc ăn uống 3 tháng cuối thai kỳ

Những tháng cuối thai kỳ, mẹ bầu cần chú ý chọn những thực phẩm dễ tiêu hóa và chia thành nhiều bữa nhỏ trong ngày.

Đẻ thường dễ là điều bất cứ mẹ bầu nào cũng mong ước. Ngoài việc tạo tâm lý thoải mái đẻ ca sinh thường trở lên dễ dàng, chế độ ăn uống trong giai đoạn 3 tháng cuối thai kỳ cũng vô cùng quan trọng. Một số thực phẩm đã được chứng minh có khả năng làm cổ tử cung mềm hơn và giúp quá trình chuyển dạ nhanh hơn. Ngoài ra, trong 3 tháng cuối mẹ cũng cần lưu ý ăn uống sao cho tốt nhất với hệ tiêu hóa.

Nguyên tắc ăn uống trong 3 tháng cuối thai kỳ:

Thức ăn dễ tiêu hóa

Trong 3 tháng cuối thai kỳ khi thai nhi đã lớn chèn ép các cơ quan khác trong cơ thể khiến sự tiết dịch ở hệ tiêu hóa giảm, nhu động ruột cũng suy yếu khiến thực phẩm trong dạ dày khó bị tiêu hóa hơn. Vì vậy mẹ không nên ăn thực phẩm chứa nhiều dầu mỡ, thực phẩm khó tiêu hóa, ăn nhiều trong một lần mà nên chia thành nhiều bữa nhỏ trong ngày và ăn thường xuyên hơn. Mẹ cũng cần bổ sung thực phẩm nhiều chất xơ để tốt cho hệ tiêu hóa.

Ba tháng cuối thai kỳ mẹ cần chú ý ăn những thực phẩm dễ tiêu hóa.
Ba tháng cuối thai kỳ mẹ cần chú ý ăn những thực phẩm dễ tiêu hóa.

Đa dạng bữa ăn

Việc bổ sung dưỡng chất đầy đủ khi mang thai là rất cần thiết vì vậy tốt hơn hết là mẹ nên có những bữa ăn đa dạng. Mẹ không nên chỉ ăn một thứ hoặc ăn suốt những món yêu thích. Việc ăn uống như thế này cũng tốt hơn cho hệ tiêu hóa, giúp mẹ tránh bị táo bón, trĩ và giúp thuận lợi hơn cho quá trình sinh nở.

Bổ sung vitamin C

Thiếu vitamin C ở phụ nữ mang thai có thể khiến mẹ bị vỡ ối sớm, nguy cơ sinh non tăng cao. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, vitamin C giúp tăng cường sự hấp thụ chất đặc biệt là sắt và canxi, giúp ngăn ngừa nguy cơ sinh non. Vì vậy trong 3 tháng cuối thai kỳ, mẹ nên bổ sung đầy đủ vitamin C để thai kỳ được hoàn hảo.

Bổ sung món ăn giúp dễ đẻ

Những món ăn được cho là giúp dễ đẻ trong dân gian là: rau lang luộc, rau dền luộc, chè mè đen, nước lá tía tô… Tuy nhiên những cách này chưa được khoa học chứng minh tính xác thực. Mẹ có thể thực hiện theo vì chúng cũng không ảnh hưởng gì đến sức khỏe.

Những thực phẩm dễ gây sảy thai cần tránh

Việc ăn uống trong thời gian mang thai là vô cùng quan trọng bởi chúng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe mẹ bầu và sự phát triển của thai nhi. Vì vậy, mẹ bầu nên chọn lọc thực phẩm trước khi ăn. Đặc biệt các mẹ cần thận trọng khi sử dụng một số loại rau, củ, quả dưới đây vì chúng là những thực phẩm dễ gây sảy thai.

1. Ngải cứu

Phụ nữ mang thai không nên an ngãi cứu
Phụ nữ mang thai không nên an ngãi cứu

Ngải cứu được dùng trong một số bài thuốc nam nhằm an thai dành cho người bị động thai hoặc sảy thai liên tiếp, việc sử dụng hợp lý ngải cứu sẽ đem lại nhiều lợi ích cho người mang thai nhưng nếu lạm dụng ngải cứu trong vòng 3 tháng đầu thai kì có thể dẫn đến ra máu nhiều, co tử cung và sảy thai.

2. Rau ngót

Phụ nữ mang thai không nên an rau ngót
Phụ nữ mang thai không nên an rau ngót

Trong rau ngót có chứa Papaverin là một chất được tìm thấy trong cây thuốc phiện, có tác dụng giãn cơ trơn của mạch máu để giảm đau, hạ huyết áp. Nếu sử dụng một lượng rau ngót tươi hơn 30mg thì có thể gây co thắt tử cung và dễ dẫn đến sảy thai. Dược thư Việt Nam 2002 ghi rõ khuyến cáo: “Không dùng papaverin cho người có thai”.

3. Rau chùm ngây

Phụ nữ mang thai không nên ăn chùm ngây
Phụ nữ mang thai không nên ăn chùm ngây

Rau chùm ngây là một loại thực phẩm vô cùng dinh dưỡng nhưng nó chắc chắn không dành cho người đang mang thai. Do trong rau chùm ngây có chứa alpha-sitosterol, đây là một loại hormone có cấu trúc giống estrogen có tác dụng ngừa thai, làm co cơ trơn tử cung và làm sảy thai. Vì vậy các nhà khoa học khuyên rằng “phụ nữ có thai không được ăn rau chùm ngây”.

4. Rau sam

Phụ nữ mang thai không nên ăn rau sam
Phụ nữ mang thai không nên ăn rau sam

Đây là loại rau có hàm lượng dinh dưỡng cao mà đồng thời còn là một loại dược liệu rất tốt. Tuy nhiên, phụ nữ có thai cần hạn chế việc sử dụng rau sam. Bởi rau sam có thể gây kích thích mạnh đến tử cung và gia tăng tần suất co bóp, điều này rất dễ dẫn đến sảy thai và nguy hiểm cho sức khỏe của phụ nữ.

5. Rau răm

Phụ nữ mang thai không nên an ngãi cú rau ram
Phụ nữ mang thai không nên an ngãi cú rau ram

Là loại rau dễ trồng và thường được dùng kèm trong nhiều món ăn của người Việt Nam, rau răm khi ăn sống thì ấm bụng, giúp tiêu thực, tán hàn. Tuy nhiên, việc sử dụng nhiều rau răm trong 3 tháng đầu thai kì khiến người mẹ dễ bị mất máu, đặc biệt trong rau răm còn có chất khiến tử cung co bóp dẫn đến sảy thai. Vậy nên hãy tránh ăn quá nhiều rau răm khi mang thai.

6. Quả dứa

Phụ nữ mang thai không nên an ngãi cú quả dứa
Phụ nữ mang thai không nên an ngãi cú quả dứa

Bà bầu mang thai 3 tháng đầu không nên ăn, uống quá nhiều nước ép dứa vì loại quả này có thể gây ra những cơn co thắt tử cung làm sảy thai; gây tiêu chảy hoặc dị ứng cho bà bầu. Nguyên nhân là do dứa tươi có chứa bromelain có tác dụng làm mềm tử cung, tạo ra chất gây phá thai. Tuy nhiên, qua 3 tháng đầu thai kỳ, mẹ bầu có thể ăn một lượng dứa vừa phải, phù hợp.

7. Táo mèo

Phụ nữ mang thai không nên ăn táo mèo
Phụ nữ mang thai không nên ăn táo mèo

Táo mèo có vị chua, chát, ngọt, được những bà bầu ốm nghén rất thích nhưng loại quả này lại không thực sự tốt cho phụ nữ mang thai. Theo nhiều tài liệu ghi lại, táo mèo có tác dụng làm hưng phấn tử cung, có thể thúc đẩy tử cung co bóp, gây sảy thai và sinh non.

8. Quả nhãn

Phụ nữ mang thai không nên ăn nhãn
Phụ nữ mang thai không nên ăn nhãn

Nhãn là một loại quả ăn rất ngon, có mùi thơm, vị ngọt. Tuy nhiên, đây lại cũng là một loại quả mẹ bầu không nên ăn trong quá trình mang thai. Bởi phụ nữ mang thai thường có triệu chứng nóng trong và thường có các hiện tượng táo bón, ăn nhãn nhiều sẽ tăng nóng trong, động huyết động thai, ra huyết đau bụng, đau tức bụng dưới, thậm chí tổn thương thai khí, dẫn tới sảy thai.

9. Đu đủ xanh

Phụ nữ mang thai không nên ăn đu đủ
Phụ nữ mang thai không nên ăn đu đủ

Rất nhiều nghiên cứu cho thấy đu đủ xanh hoặc chưa chín hẳn chứa rất nhiều enzymes và mủ, có thể gây nên sự co thắt tử cung với hậu quả là gây sảy thai. Hơn nữa, đu đủ xanh còn chứa prostaglandin và oxytocin là những chất mà cơ thể rất cần để khởi động cho giây phút ra đời của đứa trẻ. Vì thế, khi chưa đủ ngày đủ tháng để đứa trẻ ra đời, nếu ăn đu đủ xanh thì rất có thể mẹ bầu sẽ bị sảy thai.

10. Quả đào

Phụ nữ mang thai không nên ăn quả đào
Phụ nữ mang thai không nên ăn quả đào

Quả đào có vị ngọt, tính nóng nên nếu ăn nhiều đào, bà bầu dễ bị xuất huyết. Lông ở vỏ quả đào rất dễ gây ngứa, rát cổ họng.

11. Mướp đắng (khổ qua)

Phụ nữ mang thai không nên ăn mướp đắng (khổ qua)
Phụ nữ mang thai không nên ăn mướp đắng (khổ qua)

Lợi ích từ mướp đắng rất nhiều nhưng nếu việc sử dụng quá thường xuyên hoặc lạm dụng thì lại không tốt chút nào. Vị đắng của quả gây kích thích mạnh dẫn đến co bóp tử cung và dạ dày, hậu quả có thể gây sảy thai ở những người có tử cung ngả sau, tử cung có sẹo hoặc đã qua nạo phá nhiều lần.
Mướp đắng có chứa những chất như Quinine, Morodicine và hạt mướp đắng có một chất là Vicine, đây là những chất có thể gây ngộ độc ở một số người. Ngoài ra, ăn quá nhiều mướp đắng cũng gây ra tiêu chảy, đau bụng và rối loạn tiêu hoá. Do đó, các nhà khoa học cảnh báo rằng phụ nữ có thai nên tránh ăn quá nhiều mướp đắng.

12. Khoai tây mọc mầm xanh

Phụ nữ mang thai không nên ăn khoai tây mọc mầm
Phụ nữ mang thai không nên ăn khoai tây mọc mầm

Khoai tây mọc mầm sẽ rất có hại cho sức khỏe, đặc biệt là các bà bầu. Đây là thực phẩm rất độc vì có chứa một chất độc có tên là Solanin có thể gây ảnh hưởng đến quá trình phát triển của thai nhi và gây nhiều hậu quả nghiêm trọng mà người ta chưa lường hết, nhất là rủi ro gây sẩy thai.

13. Cà phê

Phụ nữ mang thai không nên ăn cafe
Phụ nữ mang thai không nên ăn cafe

Trong thời gian mang thai, đặc biệt là 3 tháng đầu của thai kỳ, mẹ bầu không nên uống cà phê vì nó có thể gây ran guy cơ sảy thai. Không những thế, trong cà phê có chứa cafein, nó sẽ đi qua nhau thai và làm rối loạn quá trình phát triển, gây ra những ảnh hưởng không tốt cho thai nhi.

14. Gan động vật

Phụ nữ mang thai không nên ăn gan động vật
Phụ nữ mang thai không nên ăn gan động vật

Gan động vật cũng có thể gây nguy hại cho bạn vì đây là nơi tập trung nhiều độc tố nếu động vật bị nhiễm bệnh. Ngoài ra, trong gan cũng có chứa nhiều cholesterone và vitamin A. Nếu bạn ăn quá nhiều gan, kết hợp dùng thêm các loại thuốc hay thực phẩm dinh dưỡng khác có thể gây ra hiện tượng thừa vitamin, ảnh hưởng xấu đến bé yêu.

15. Trứng tái, sống

Phụ nữ mang thai không nên ăn trứng sống
Phụ nữ mang thai không nên ăn trứng sống

Trứng sống hoặc chưa được nấu chín có thể nhiễm salmonella khiến mẹ bầu và thai nhi gặp rắc rối. Salmonella có thể đi qua nhau thai và gây nhiễm trùng nghiêm trọng hoặc tử vong ở thai nhi. Để được an toàn nhất, các mẹ nên tránh những món ăn với trứng chưa được nấu kĩ như salad, kem tự chế, mayonnaise… Khi chế biến trứng để ăn, mẹ bầu cũng cần lưu ý để trứng chín cả lòng đỏ và lòng trắng.

16. Trà đặc

Phụ nữ mang thai không nên uống trà đặc
Phụ nữ mang thai không nên uống trà đặc

Trà đặc càng tuyệt đối bị cấm với những phụ nữ mang thai. Chất fluoride có trong trà là rất cao. Một tách trà đặc có chứa 1,25 mg florua. Nếu phụ nữ uống trà đặc trong thời kỳ mang thai, họ có thể dễ dàng bị thiếu máu, thiếu sắt và quy trình cung cấp dinh dưỡng cho bào thai có thể bị cản trở.